BỘ CÔNG AN LẤY Ý KIẾN XÂY DỰNG DỰ THẢO LUẬT ĐỊNH DANH VÀ XÁC THỰC ĐIỆN TỬ
VCI Legal – ngày 30 tháng 6 năm 2026
Trong kỷ nguyên chuyển đổi số toàn diện, hệ thống định danh điện tử không chỉ là phương thức quản lý hành chính mang tính đổi mới mà còn là “chìa khóa” mở ra nền kinh tế số hiện đại, bắt kịp xu hướng phát triển trên toàn cầu. Việc xây dựng và lấy ý kiến đối với Dự thảo Luật Định danh và Xác thực điện tử 2026 (“Dự thảo”) đang đánh dấu một bước ngoặt pháp lý quan trọng, hứa hẹn tạo ra hệ thống thông tin dữ liệu quốc gia đáng tin cậy, minh bạch, an toàn cho mọi giao dịch trực tuyến và các vấn đề liên quan xác minh nhân thân. Tuy nhiên, để đạo luật này thực sự đi vào cuộc sống, cần có những đánh giá đa chiều về tính khả thi cũng như sự đồng bộ với các quy định pháp luật hiện hành. Bài viết này sẽ phân tích một số nội dung nổi bật được nêu trong bản Dự thảo này.
NHỮNG QUY ĐỊNH NỔI BẬT
Đối tượng định đanh điện tử không chỉ cơ quan, tổ chức cá nhân mà phạm vi định danh được mở rộng đối với sản phẩm, hàng hoá, thiết bị, cơ sở dữ liệu, ứng dụng, tài sản số, quyền tài sản, giao dịch, sự kiện, địa điểm, không gian, …;
Mã định danh được phân loại thành mã định danh quốc gia (cấp cho đối tượng được định danh bởi nhà nước) và mã định danh tự chủ (cấp cho đối tượng được định danh bởi tổ chức, doanh nghiệp);
Thời gian lưu trữ danh tính điện tử: (i) Vĩnh viễn đối với danh tính điện tử quốc gia trong cơ sở dữ liệu quốc gia; và (ii) tối thiểu 05 năm đối với danh tính điện tử tự chủ, trừ trưởng hợp pháp luật khác yêu cầu phải xoá dữ liệu;
CHI TIẾT MỘT SỐ VẤN ĐỀ NỘI BẬT CỦA DỰ THẢO LUẬT ĐỊNH DANH VÀ XÁC THỰC ĐIỆN TỬ
1. Đối tượng định danh điện tử
Theo Khoản 2 Điều 3 Dự thảo, định danh điện tử là hoạt động xác lập và gắn cho một đối tượng một mã định danh duy nhất cùng tập hợp thông tin cho phép phân biệt đối tượng đó với mọi đối tượng khác trên môi trường điện tử
Điều 7 Dự thảo quy định chi tiết và phân loại rõ ràng những đối tượng phải định danh điện tử. Theo quy định này, đối tượng được định danh điện tử không chỉ bao gồm cơ quan, tổ chức và cá nhân mà còn bao gồm đối tượng:
Các đối tượng tồn tại dưới dạng vật chất: sản phẩm, hàng hóa, thiết bị và các loại tài sản, vật chất khác.
Các đối tượng tồn tại dưới dạng phi vật chất: (i) Dữ liệu và tài nguyên số: cơ sở dữ liệu, tệp dữ liệu, hình ảnh, video, các dữ liệu và tài nguyên số khác; (ii) Tên miền, địa chỉ mạng, ứng dụng, phần mềm và các dịch vụ số; (iii) Quyền tài sản và quyền sở hữu trí tuệ: quyền tác giả, quyền liên quan; sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp; các quyền tài sản khác theo quy định pháp luật; (iv) Tài sản số theo quy định của pháp luật về công nghiệp công nghệ số; (v) Di sản văn hóa phi vật thể; (vi) Các đối tượng phi vật chất khác theo quy định pháp luật.
Hoạt động, sự kiện, giao dịch, hành vi, tương tác giữa các đối tượng.
Địa điểm và không gian
Điều luật này thể hiện tư duy lập pháp đổi mới, không theo lối tư duy lập pháp truyền thống (vốn dĩ chỉ tập trung vào các thông tin gắn liền nhân thân, định danh chủ thể). Bằng cách định danh hóa cả tài sản phi vật chất và các sự kiện, giao dịch, hành vi giữ các đối tượng, địa điểm và không gian, dự thảo tạo ra một hành lang pháp lý cực kỳ cần thiết cho kinh tế số phát triển. Điều này giúp các giao dịch thương mại điện tử, việc chuyển nhượng tài sản số, bảo hộ quyền tác giả trên mạng trở nên minh bạch, an toàn và dễ dàng kiểm soát hơn. Ngoài ra, về mặt quản lý, quy định này tạo cơ sở để hình thành một hệ thống truy xuất nguồn gốc và quản lý “sự vận hành” của đối tượng trên môi trường số, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan nhà nước khi có yêu cầu xác minh, rà soát, truy xuất và đối chiếu dữ liệu thông tin.
Về cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện hoạt động định danh điện tử, theo Điều 8 Dự thảo, Nhà nước trực tiếp thực hiện định danh điện tử đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân, địa điểm, không gian và những đối tượng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với lợi ích quốc gia, bao gồm dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng, các đối tượng được Nhà nước chứng nhận quyền sở hữu hoặc sử dụng và các đối tượng thuộc phạm vi bí mật nhà nước. Đối với các đối tượng còn lại do tổ chức và doanh nghiệp đáp ứng điều kiện theo luật thực hiện.
2. Các nội dung về định danh điện tử
* Đăng ký định danh điện tử (Điều 10)
Đăng ký định danh điện tử là quá trình gửi yêu cầu đăng ký và cung cấp thông tin đăng ký định danh điện tử của chủ thể danh tính điện tử với cơ quan, tổ chức thực hiện hoạt động định danh điện tử. Có 02 hình thức, phương thức thực hiện việc đăng ký định danh điện tử: trực tuyến qua ứng dụng và trực tiếp tại cơ quan, tổ chức thực hiện hoạt động định danh điện tử.
* Cấp mã định danh (Điều 12)
Mã định danh là chuỗi ký tự duy nhất gắn với một đối tượng xác định, không trùng lặp, không cấp lại (Khoản 3 Điều 3 Dự thảo), được phân loại thành mã định danh quốc gia (cấp cho đối tượng được định danh bởi nhà nước) và mã định danh tự chủ (cấp cho đối tượng được định danh bởi tổ chức, doanh nghiệp). Đối với các đối tượng tồn tại dưới dạng vật chất, phi vật chất, địa điểm, không gian, mã định danh của đối tượng phải có khả năng liên kết với mã định danh của chủ thể sở hữuu hoặc quản lý hợp pháp.
* Lưu trữ thông tin về danh tính điện tử (Điều 14)
Thông tin danh tính điện tử phải được lưu trữ đầy đủ, nhất quán, có phương án sao lưu, hồi phục, dự phòng. Mọi thay đổi đối với thông tin danh tính điện tử phải được ghi nhận đầy đủ, kèm dấu thời gian, mã định danh của cơ quan, tổ chứ,c cá nhân thực hiện thay đổi và lí do thay đổi. Ngoài ra, việc lưu trữ cần đảm bảo chủ thể danh tính điện tử có thể lưu trữ, kiểm soát, chia sẻ và xác thực danh tính điện tử độc lập không phu thuộc vào cơ sở dữ liệu tập trung.
Thời gian lưu trữ danh tính điện tử: (i) Vĩnh viễn đối với danh tính điện tử quốc gia trong cơ sở dữ liệu quốc gia; và (ii) tối thiểu 05 năm đối với danh tính điện tử tự chủ, trừ trưởng hợp pháp luật khác yêu cầu phải xoá dữ liệu
* Giá trị sử dụng và khai thác danh tính điện tử (Điều 16)
Với cơ quan, tổ chức, cá nhân, danh tính điện tử có giá trị pháp lý tương đương việc cung cấp thông tin hoặc sử dụng, xuất trình giấy tờ, tài liệu có chứa thông tin đó trong thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công, giao dịch và hoạt động khác. Các chủ thể này có thể khai thác, sử dụng danh tính định danh điện tử của mình thông qua tuỷ cập ứng dụng định danh quốc gia. Hệ thống thông tin của cơ quan nhà nhức, tổ chức chính trị và tổ chức có liên quan kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia để khai thác, phục vụ giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công trên môi trường điện tử và các hoạt động quản lý nhà nước khác theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
Với đối tượng tồn tại dưới dạng vật chất và phi vật chất, danh tính điện tử có giá trị cung cấp thông tin tương đương việc xuất trình các giấy tờ, tài liệu chứng minh quyền sở hữu, quyền quản lý hợp pháp của chủ thể danh tính điện tử đối với đối tượng đó.
Với hoạt động, sự kiện, giao dịch, hành vi giữa các chủ thể, danh tính điện tử có giá trị cung cấp thông tin ghi nhận về danh tính điện tử của sự kiện, hoạt động, giao dịch, hành vi, tương tác giữa các đối tượng tại thời gian, địa điểm được xác định
Với địa điểm và không gian, danh tính điện tử có giá trị xác định, định vị và phân biệt địa điểm, không gian được định danh trên môi trường điện tử.
* Chấm dứt hiệu lực của danh tính điện tử (Điều 18): 5 trường hợp
Chủ thể danh tính điện tử yêu cầu;
Cá nhân danh tính điện tử chết;
Tổ chức, doanh nghiệp được định danh chấm dứt hoạt động, giải thế, phá sản;
Đối tượng là vật chất hoặc phi vật chất không còn tồn tại;
Yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quán khác
3. Các nội dung về xác thực điện tử
Khoản 5 Điều 3 Dự thảo quy định xác thực danh tính điện tử là quá trình xác nhận rằng một đối tượng cụ thể đang thực sự tham gia vào một giao dịch hoặc thủ tục nhất định, tại một thời điểm và ngữ cảnh xác định
Theo Điều 20 Dự thảo, mọi đối tượng đã được định danh điện tử đều là đối tượng xác thực điện tử và được thực hiện theo 03 mô hình: (i) Mô hình xác thực tập trung (thông qua cơ quan, tổ chức thực hiện hoạt động định danh điện tử); (ii) Mô hình xác thực trung gian (thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ xác thực điện tử); (iii) Mô hình xác thực tự chủ. Các hoạt động xác thực điện tử quốc gia bao gồm các giai đoạn:
Giai đoạn 1: Tiếp nhận yêu cầu và xác định đối tượng xác thực (Điều 23)
Giai đoạn 2: Xác định mức độ xác thực điện tử (Điều 24)
Gồm 03 mức độ: (i) ) Mức độ 1: sử dụng một yếu tố xác thực; (ii) Mức độ 2: sử dụng hai yếu tố xác thực thuộc nhóm yếu tố tri thức và yếu tố sở hữu; (iii) Mức độ 3: sử dụng tối thiểu hai yếu tố xác thực, trong đó có ít nhất một yếu tố thuộc nhóm yếu tố đặc trưng.
Giai đoạn 3: Lựa chọn phương tiện xác thức điện tử (Điều 25)
Đối với mô hình xác thực tập trung: phương tiện xác thực phải có khả năng thiết lập kết nối trực tuyến với Hệ thống của cơ quan, tổ chức thực hiện hoạt động định danh điện tử để đối chiếu, xác nhận yếu tố xác thực tại thời điểm giao dịch;
Đối với mô hình xác thực trung gian: phương tiện xác thực hỗ trợ lưu trữ và chuyển tiếp các thông tin xác thực, kết quả xác thực đã được cơ quan, tổ chức thực hiện hoạt động xác thực điện tử xác nhận;
Đối với mô hình xác thực tự chủ: phương tiện xác thực do chủ thể danh tính điện tử trực tiếp kiểm soát, cho phép cung cấp thông tin cho bên sử dụng dịch vụ xác thực điện tử có thể kiểm chứng độc lập, mà không cần kết nối đến hệ thống của cơ quan, tổ chức thực hiện hoạt động định danh và xác thực điện tử
Giai đoạn 4: Kiểm tra phương tiện xác thực điện tử (Điều 26)
Giai đoạn 5: Ghi nhận và lưu trữ kết quả xác thực (Điều 27)
Đối với mô hình xác thực tập trung và trung gian: lưu trữ tại hệ thống của tổ chức cung cấp dịch vụ xác thực và đồng bộ về Hệ thống định danh và xác thực điện tử quốc gia;
Đối với mô hình xác thực tự chủ: lưu trữ tại hệ thống của bên sử dụng dịch vụ xác thực điện tử và đồng bộ nhật ký xác thực về Hệ thống định danh và xác thực điện tử quốc gia trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ thời điểm xác thực, để bảo đảm khả năng truy vết theo quy định tại Điều 30 của Luật này. Việc đồng bộ nhật ký không bao gồm dữ liệu nội dung giao dịch
Giai đoạn 6: Sử dụng kết quả xác thực điện tử (Điều 28)
Kết quả xác thực điện tử được sử dụng theo các cách thức: (i) Tổ chức cung cấp dịch vụ xác thực điện tử cung cấp kết quả xác thực điện tử cho bên sử dụng dịch vụ xác thực điện tử để thực hiện giao dịch điện tử hoặc thủ tục pháp lý;
b) Tổ chức cung cấp dịch vụ xác thực điện tử cung cấp kết quả xác thực điện tử cho bên thứ ba theo yêu cầu của chủ thể danh tính điện tử;
c) Bên sử dụng dịch vụ xác thực điện tử trực tiếp thu thập, sử dụng kết quả xác thực điện tử do mình thực hiện đối với danh tính điện tử tự chủ.
About VCI Legal:
VCI Legal is an award-winning business law firm in Vietnam with a wide range of legal and corporate services, among other things, corporate, banking & finance, tax, labor & HR, real estate and dispute resolution with special focus on international investment disputes, We also offer our specialized type of service called “In-House Counsel Service” with the aim of assisting our clients in dealing with all types of internal and external issues arising from their day-to-day operations and business activities. With our offices in both Hanoi and Ho Chi Minh City, we have a tremendous depth of experience in providing well-reasoned and comprehensive legal advice to not only multinationals and Fortune 500 companies, but also small and medium enterprises.
Our professional team comprises one of the leading law firms in Vietnam with service quality highly recommended and acknowledged by international legal service reviewers such as: The Legal 500, AsiaLaw Profiles, IFLR, KPMG’s Tax Directors’ Handbook, Acquisition International, ACQ Global, Global Law Experts, Finance Monthly, and Chambers & Partners.
For many years, VCI Legal has been ranked among the top law firms in Vietnam for corporate, finance, insurance, taxation, employment, intellectual property and investment. With a “Can Do Attitude” combined with a “Know How” capacity, our firm is big enough to provide comprehensive legal support for any in-house legal matters, yet small enough to care about each of our clients. We undertake each engagement with the mindset of a long-term relationship, with the will to give whatever it takes to understand and fulfill your needs.
Ho Chi Minh City
Suite P7-42.18, Vinhomes Central Park, 720A Dien Bien Phu, Thanh My Tay Ward, Ho Chi Minh City, Vietnam
Tel.: (+84) 028 3827 2029 Fax: (+84) 028 3823 4436
Hanoi
Suite 1903, Floor 19, W1 Tower, Vinhomes Westpoint, Pham Hung, Tu Liem Ward, Hanoi City, Vietnam
Tel.: (+84) 024 3936 4985 – (+84) 024 3936 4987
Affiliated Offices: Beijing – Shanghai – Hanoi – Ho Chi Minh City – Singapore – New Delhi – Dubai – Doha – Zurich – Paris – Rome – Brescia – Washington D.C. – Los Angeles
