banner

LUẬT CÔNG NGHỆ CAO 2025 HOÀN THIỆN THỂ CHẾ PHÁP LÝ, KIẾN TẠO ĐỘNG LỰC ĐỘT PHÁ CHO QUỐC GIA TRONG KỶ NGUYÊN SỐ |

LUẬT CÔNG NGHỆ CAO 2025 HOÀN THIỆN THỂ CHẾ PHÁP LÝ, KIẾN TẠO ĐỘNG LỰC ĐỘT PHÁ CHO QUỐC GIA TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

VCI Legal – ngày 30 tháng 6 năm 2026

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội Khóa XV đã thông qua Luật Công nghệ cao. Luật Công nghệ cao số 133/2025/QH15 thay thế Luật Công nghệ cao năm 2008. Đây là văn bản pháp quy quan trọng, thể chế hóa tư duy quản trị mới của Nhà nước: xác định phát triển công nghệ cao và đặc biệt là “Công nghệ chiến lược” là đột phá chiến lược nhằm nâng cao năng lực tự chủ quốc gia và chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Luật thiết lập một hệ thống chính sách ưu đãi tích hợp và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox), tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho việc nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa các thành tựu khoa học tiên tiến.

NHỮNG QUY ĐỊNH NỔI BẬT

Điểm mới nổi bật của Luật Công nghệ cao 2025 là lần đầu tiên luật hóa khái niệm “Công nghệ chiến lược” tạo tiền đề để Nhà nước tập trung nguồn lực quốc gia vào các công nghệ có tính đột phá và lan tỏa mạnh mẽ.

Xác lập chủ quyền vốn trong công nghệ chiến lược: Quy định tỷ lệ sở hữu vốn nội địa tối thiểu 51% đối với doanh nghiệp công nghệ chiến lược nhằm đảm bảo an ninh kinh tế và tính tự cường.

Thay vì các chính sách ưu đãi dàn trải, Luật Công nghệ cao 2025 thiết lập một hệ thống tiêu chí định lượng minh bạch để xác định danh mục công nghệ cao (CNC) và Công nghệ chiến lược (CNCL), các tiêu chí này tập trung vào hiệu quả thực chất.

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Regulatory Sandbox): Luật chính thức hóa cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và cơ chế chấp nhận rủi ro để giải phóng tiềm năng sáng tạo, loại bỏ rào cản tâm lý pháp lý cho các nhà khoa học.

Luật hoá các nội dung về Hệ sinh thái Công nghệ cao và Khu đô thị Công nghệ cao.

NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CỦA LUẬT CÔNG NGHỆ CAO 2025

1. Chế định về Công nghệ chiến lược và Công nghệ lõi

Điểm mới nổi bật của Luật Công nghệ cao 2025 là sự xuất hiện của khái niệm “Công nghệ chiến lược” (CNCL) tại Khoản 2 Điều 3, Công nghệ chiến lược là công nghệ có tính đột phá và lan tỏa, được Nhà nước xác định tập trung đầu tư phát triển nhằm tăng cường năng lực tự chủ công nghệ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội bền vững.

Khoản 3 Điều 3 Luật Công nghệ cao 2025 quy định: “Công nghệ lõi là công nghệ có tính nền tảng, quyết định đến việc hình thành, phát triển và làm chủ công nghệ cao, công nghệ chiến lược; quyết định đến tính năng, chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm công nghệ cao, công nghệ chiến lược”.

Điều 5 xác lập các tiêu chí khắt khe nhằm xác định công nghệ cao được ưu tiên phát triển cũng như xác định công nghệ chiến lược. Theo đó,

Đối với công nghệ cao phải đáp ứng các tiêu chí: (i) Giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển quốc gia, nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp, chuyển đổi mô hình tăng trưởng; bảo đảm quốc phòng, an ninh; (ii) Phù hợp với định hướng phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia và phù hợp với thực tiễn Việt Nam; (iii) Có khả năng nghiên cứu, làm chủ, cải tiến hoặc nội địa hóa bởi tổ chức, cá nhân trong nước hoặc giữ vai trò nền tảng hình thành ngành sản xuất mới, chuỗi giá trị mới, dịch vụ mới có tiềm năng cạnh tranh quốc tế hoặc có khả năng thu hút đầu tư kèm chuyển giao công nghệ hoặc góp phần phát triển kinh tế – xã hội các vùng đặc biệt khó khăn;

Đối với công nghệ chiến lược phải đáp ứng tiêu chí (i) và (ii) của công nghệ cao và đáp ứng thêm một hoặc một số tiêu chí: (i) Có tác động đột phá đến phát triển kinh tế – xã hội; (ii) Tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia lâu dài; (iii) Có khả năng hình thành phương thức sản xuất mới, ngành công nghiệp mới, chuỗi giá trị mới; (iv) Có khả năng hình thành từ công nghệ lõi do tổ chức, cá nhân trong nước nghiên cứu, làm chủ nhằm tạo ra sản phẩm công nghệ chiến lược.

Điều 6 xác lập các tiêu chí xác định sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển và sản phẩm công nghệ chiến lược. Theo đó,

Sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển phải đáp ứng các tiêu chí: (i) Được tạo ra từ một hoặc nhiều công nghệ thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển; (ii) Có tỷ trọng giá trị gia tăng cao trong cơ cấu giá trị sản phẩm; (iii) Có khả năng xuất khẩu hoặc thay thế sản phẩm nhập khẩu;

Sản phẩm công nghệ chiến lược đáp ứng tiêu chí (ii) và (iii) nêu trên và các tiêu chí sau: (i) Được tạo ra từ một hoặc nhiều công nghệ thuộc Danh mục công nghệ chiến lược; (ii) Có tác động đột phá đến phát triển kinh tế – xã hội hoặc có vai trò quan trọng đối với quốc phòng, an ninh; (iii) Tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia.

2. Phân loại doanh nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp công nghệ chiến lược

Luật Công nghệ cao 2025 thiết lập một hệ thống phân loại doanh nghiệp khoa học nhằm tối ưu hóa việc phân bổ nguồn lực ưu đãi. Điều 15 đã vạch ra 03 nhóm doanh nghiệp đối với lĩnh vực này, gồm: Doanh nghiệp sản phẩm công nghệ cao, Doanh nghiệp công nghệ cao và Doanh nghiệp công nghệ chiến lược.

Về doanh nghiệp sản phẩm công nghệ cao, các tiêu chí phải đáp ứng là: (i) Sản xuất sản phẩm công nghệ cao hoặc cung ứng dịch vụ theo Luật này và thuộc Danh mục sản phẩm công nghẹ cao được khyến khích phát triển; (ii) Áp dụng các biện pháp thân thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng, hệ thống quản lý chất lượng đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam; trường hợp chưa có tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam thì áp dụng tiêu chuẩn khu vực, nước ngoài.

Về doanh nghiệp công nghệ cao, các tiêu chỉ phải đáp ứng là: (i) Sở hữu công nghệ, đồng sở hữu công nghệ, quyền sử dụng hợp pháp công nghệ hoặc có hoạt động chuyển giao công nghệ theo quy định của pháp luật để phát triển và ứng dụng công nghệ cao, sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ công nghệ cao; (ii) Đáp ứng tiêu chí về doanh thu, chi nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam, lao động trực tiếp thực hiện nghiên cứu và phát triển. Trong đó, Doanh nghiệp công nghệ cao được phân loại thành Doanh nghiệp công nghệ cao nhóm 1 và 2.

Doanh nghiệp công nghệ cao nhóm 2 là doanh nghiệp công nghệ cao chỉ cần đáp ứng các điều kiện nêu trên.

Doanh nghệp công nghệ cao nhóm 1 là doanh nghiệp công nghệ cao đáp ứng tiêu chí nêu trên và một trong các tiêu chí: (i) Thực hiện hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao; (ii) Sản xuất sản phẩm công nghệ cao đạt tỷ lệ nội địa hóa tối thiểu do Chính phủ quy định theo ngành, lĩnh vực; đồng thời bảo đảm tổng mức chi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam hằng năm đạt tối thiểu 1% trên doanh thu thuần sau khi trừ giá trị đầu vào.

Đặc biệt, Khoản 6 Điều 15 xác lập chế định về Doanh nghiệp công nghệ chiến lược với yêu cầu pháp lý về cơ cấu sở hữu vốn:

Tỷ lệ vốn nội địa tối thiểu 51%: Đây là quy định có tính chiến lược nhằm bảo đảm quyền kiểm soát quốc gia đối với các công nghệ lõi mang tính sống còn, ngăn chặn tình trạng phụ thuộc hoàn toàn vào vốn ngoại hoặc rủi ro thất thoát bí mật công nghệ quốc gia.

Sở hữu hoặc đồng sở hữu công nghệ chiến lược, công nghệ lõi phục vụ sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược tại Việt Nam;

áp ứng tiêu chí về doanh thu, chi nghiên cứu và phát triển, tỷ lệ nội địa hóa, lao động trực tiếp thực hiện nghiên cứu và phát triển. Điều này buộc doanh nghiệp phải đầu tư thực chất vào trí tuệ thay vì chỉ dừng lại ở các hoạt động gia công giá trị thấp.

3. Cơ chế thúc đẩy đổi mới sáng tạo, thử nghiệm có kiểm soát và Chấp nhận rủi ro

Nhận diện được đặc thù của hoạt động công nghệ cao là tính bất định và rủi ro, Luật Công nghệ 2025 đã đưa vào các cơ chế quản trị hiện đại:

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox): Tại Khoản 5 Điều 4 và Khoản 2 Điều 16, Nhà nước ban hành, điều chỉnh chính sách phép thử nghiệm các sản phẩm, dịch vụ công nghệ chiến lược mới trong môi trường thực tế.

Cá nhân trực tiếp thực hiện hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược trong doanh nghiệp này được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ về đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, lao động, nhà ở, xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, cấp giấy phép lao động và được miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Tuỳ thuộc vào loại hình kinh doanh và sản phẩm công nghệ, doanh nghiệp được hướng chính sách ưu đãi, hỗ trợ cao nhất hoặc chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về đầu tư, thuế, đất đai và chính sách khác theo pháp luât.

Cơ chế chấp nhận rủi ro: Khoản 4 Điều 16 quy định các doanh nghiệp tại Điều 15 được áp dụng cơ chế chấp nhận rủi ro theo chế định của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Về mặt pháp lý, đây là cam kết của Nhà nước trong việc miễn trừ trách nhiệm cho các chủ thể nếu thất bại xảy ra ngoài ý muốn chủ quan, giải tỏa “điểm nghẽn” tâm lý trong đầu tư mạo hiểm và nghiên cứu đỉnh cao.

4. Mô hình đô thị công nghệ cao

Luật mở rộng tầm nhìn từ “Khu công nghệ cao” thuần túy sang “Đô thị công nghệ cao” tại Điều 22 và Điều 23. Theo đó, Khu công nghệ cao là nơi tập trung, liên kết hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo, ươm tạo và thương mại hóa công nghệ cao, công nghệ chiến lược, hình thành hệ sinh thái công nghệ cao, góp phần nâng cao năng lực công nghệ quốc gia và phát triển kinh tế – xã hội. Mở rộng phạm vi hiện đại hoá, Đô thị công nghệ cao là đô thị được hình thành và phát triển trên cơ sở hệ sinh thái công nghệ cao, trong đó khu công nghệ cao, các tổ chức khoa học và công nghệ giữ vai trò trung tâm.

Đô thị công nghệ cao ngoài việc đáp ứng tiêu chí của đô thị còn phải đáp ứng các điều kiện:

Có khu công nghệ cao và tổ chức khoa học và công nghệ giữ vai trò trung tâm phát triển, được kết nối đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số và hạ tầng xã hội với các khu vực phụ cận;

Có hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số và hạ tầng công nghệ phục vụ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ cao, công nghệ chiến lược;

Có hệ sinh thái đổi mới sáng tạo với sự tham gia của tổ chức nghiên cứu, cơ sở ươm tạo, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và trung tâm chuyển giao công nghệ;

Có môi trường sống xanh, an toàn và phát triển bền vững; chất lượng sống được nâng cao thông qua hệ thống dịch vụ thông minh, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;

Có cơ chế, chính sách và khung pháp lý thuận lợi cho phát triển, thử nghiệm và ứng dụng công nghệ cao, công nghệ chiến lược mới, mô hình quản trị đô thị tiên tiến;

Đô thị công nghệ cao phải bảo đảm liên kết chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu, tổ chức hỗ trợ và doanh nghiệp công nghệ cao; xác định tỷ lệ diện tích đất dành cho các chức năng phù hợp, ưu tiên tập trung cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, gắn với phát triển khu công nghệ cao.

Đây được định nghĩa là đô thị lấy hệ sinh thái công nghệ cao và các tổ chức khoa học làm trung tâm. Mục tiêu là xây dựng môi trường sống xanh, thông minh, an toàn để thu hút và giữ chân các chuyên gia đầu ngành, đảm bảo họ có đủ điều kiện để cống hiến lâu dài tại Việt Nam thay vì chỉ đến làm việc rồi đi.

ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT

Chế định quan trọng nhất của Luật Công nghệ cao 2025 là việc lần đầu tiên luật hóa khái niệm “Công nghệ chiến lược” gắn liền với “Công nghệ lõi”, tạo tiền đề để Nhà nước tập trung nguồn lực quốc gia vào các lĩnh vực có tính đột phá, lan tỏa và tăng cường năng lực tự chủ công nghệ.

Về mặt quản trị đầu tư, luật thể hiện tư duy lập pháp sắc bén khi quy định rào cản về tỷ lệ sở hữu vốn nội địa tối thiểu 51% đối với doanh nghiệp công nghệ chiến lược, nhằm bảo đảm an ninh kinh tế và quyền kiểm soát đối với các công nghệ lõi quan trọng.

Đánh giá khách quan, việc chính thức hóa cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và mô hình “Đô thị công nghệ cao” cho thấy nỗ lực của cơ quan lập pháp trong việc kiến tạo một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hiện đại, xanh và bền vững

Tổng thể, Luật Công nghệ cao 2025 có tính thực thi cao, định hình rõ nét lộ trình làm chủ công nghệ và khẳng định vị thế độc lập của quốc gia trong kỷ nguyên số.

GIẢI PHÁP VÀ HÀNH ĐỘNG

Rà soát cấu trúc vốn và năng lực công nghệ: Các doanh nghiệp cần chủ động điều chỉnh cơ cấu vốn (đảm bảo tỷ lệ nội địa 51%) và chiến lược sở hữu công nghệ lõi để đáp ứng tiêu chuẩn “Doanh nghiệp công nghệ chiến lược”

Chủ động tham gia cơ chế Sandbox: Đề xuất các dự án thử nghiệm có kiểm soát đối với các công nghệ mới nổi để được bảo vệ bởi khung pháp lý ưu tiên trước khi sản phẩm được thương mại hóa thông thường.

Đẩy mạnh hợp tác M&A công nghệ: Tận dụng chính sách hỗ trợ của Nhà nước để thực hiện các thương vụ mua bán, sáp nhập doanh nghiệp nước ngoài đang nắm giữ công nghệ lõi nhằm giải mã và làm chủ công nghệ.


About VCI Legal:

VCI Legal is an award-winning business law firm in Vietnam with a wide range of legal and corporate services, among other things, corporate, banking & finance, tax, labor & HR, real estate and dispute resolution with special focus on international investment disputes, We also offer our specialized type of service called “In-House Counsel Service” with the aim of assisting our clients in dealing with all types of internal and external issues arising from their day-to-day operations and business activities. With our offices in both Hanoi and Ho Chi Minh City, we have a tremendous depth of experience in providing well-reasoned and comprehensive legal advice to not only multinationals and Fortune 500 companies, but also small and medium enterprises.

Our professional team comprises one of the leading law firms in Vietnam with service quality highly recommended and acknowledged by international legal service reviewers such as: The Legal 500, AsiaLaw Profiles, IFLR, KPMG’s Tax Directors’ Handbook, Acquisition International, ACQ Global, Global Law Experts, Finance Monthly, and Chambers & Partners.

For many years, VCI Legal has been ranked among the top law firms in Vietnam for corporate, finance, insurance, taxation, employment, intellectual property and investment. With a “Can Do Attitude” combined with a “Know How” capacity, our firm is big enough to provide comprehensive legal support for any in-house legal matters, yet small enough to care about each of our clients. We undertake each engagement with the mindset of a long-term relationship, with the will to give whatever it takes to understand and fulfill your needs.


Ho Chi Minh City

Suite P7-42.18, Vinhomes Central Park, 720A Dien Bien Phu, Thanh My Tay Ward, Ho Chi Minh City, Vietnam

Tel.: (+84) 028 3827 2029 Fax: (+84) 028 3823 4436


Hanoi

Suite 1903, Floor 19, W1 Tower, Vinhomes Westpoint, Pham Hung, Tu Liem Ward, Hanoi City, Vietnam

Tel.: (+84) 024 3936 4985 – (+84) 024 3936 4987

Affiliated Offices: Beijing – Shanghai – Hanoi – Ho Chi Minh City – Singapore – New Delhi – Dubai – Doha – Zurich – Paris – Rome – Brescia – Washington D.C. – Los Angeles

Go to
  • Expertise
  • People
  • Cases
  • Courses